Một số vấn đề lưu ư đối với vận đơn đường biển (BL)
Đang Tải Dữ Liệu...
Results 1 to 1 of 1

Thread: Một số vấn đề lưu ư đối với vận đơn đường biển (BL)

  1. #1
    Join Date
    Mar 2011
    Posts
    43
    Thanks
    18
    Thanked 27 Times in 13 Posts

    Default Một số vấn đề lưu ư đối với vận đơn đường biển (BL)

    Những vấn đề cần lưu ư đối với vận đơn đường biển theo tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế số 681 năm 2007

    Trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng thuộc về người vận chuyển. Ở khoản 3, Điều 3, Công ước Brussels ngày 25/8/1924 quy định: Sau khi nhận hàng để chở, người vận chuyển hoặc thuyền trưởng hoặc đại lư của người vận chuyển sẽ theo yêu cầu của người gửi hàng, cấp cho họ một vận đơn đường biển... Vậy, vận đơn đường biển là ǵ?

    Vận đơn đường biển (Ocean Bill of Lading) là chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, do người vận chuyển (carrier) hoặc đại lư của người vận chuyển (Agent of carrier) phát hành cho người gửi hàng (Shipper) sau khi hàng hóa đă được xếp lên tàu (shipped on board) hoặc sau khi nhận hàng để xếp (received for shipment).

    Trong thương mại và hàng hải quốc tế, vận đơn đường biển không chỉ dùng trong giao nhận và vận chuyển hàng hóa mà được dùng để điều chỉnh nhiều mối quan hệ, ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Vận đơn đường biển là chứng từ không thể thiếu được trong bộ chứng từ thanh toán tiền hàng, đặc biệt là phương thức thanh toán bằng tín dụng thư (letter of credit - L/C). V́ là chứng từ hết sức quan trọng trong bộ chứng từ thanh toán nên khi nhận được bộ chứng từ xuất tŕnh, các ngân hàng có liên quan bao giờ cũng thận trọng trong việc kiểm tra các chứng từ, đặc biệt là vận đơn đường biển. Bỏ qua những yêu cầu khác, thông thường một bộ chứng từ chỉ được các ngân hàng chấp nhận thanh toán khi có vận đơn hợp lệ. Điều đó có nghĩa, muốn được thanh toán tiền hàng, chủ hàng xuất khẩu phải xuất tŕnh vận đơn hợp lệ. Vậy thế nào là một vận đơn đường biển hợp lệ? Những nội dung trên vận đơn được coi là hợp lệ theo tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế thể hiện như thế nào? Đây là vấn đề mà các chủ hàng xuất nhập khẩu cần quan tâm nhằm tránh những tranh chấp có thể phát sinh, bảo vệ được quyền lợi của ḿnh trong mọi trường hợp.

    Trên thực tế, khi tờ vận đơn xuất tŕnh được các ngân hàng chấp nhận là hợp lệ có thể chia thành hai trường hợp:
    Trường hợp tín dụng thư có quy định về chứng từ vận tải

    Khi tín dụng thư có quy định về chứng từ vận tải th́ vận đơn xuất tŕnh phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của tín dụng thư về h́nh thức, nội dung, số bản gốc, các thông tin trên chứng từ... Nếu vận đơn khi xuất tŕnh không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu theo quy định th́ vận đơn đó coi như không hợp lệ và như vậy bộ chứng từ sẽ không được chấp nhận thanh toán. V́ vậy, khi kiểm tra L/C (người nhập khẩu mở cho người xuất khẩu hưởng), nếu thấy yêu cầu nào đó trên L/C không thể đáp ứng được th́ người xuất khẩu phải yêu cầu sửa đổi hoặc hủy bỏ... Người xuất khẩu chỉ giao hàng khi L/C đă sửa đổi và các yêu cầu trên L/C có thể đáp ứng được. Có như vậy mới đảm bảo khả năng bộ chứng từ được chấp nhận thanh toán khi xuất tŕnh tại ngân hàng.

    Trường hợp hợp đồng mua bán và tín dụng thư không quy định về chứng từ vận tải

    Nếu hợp đồng mua bán và L/C không có quy định ǵ về chứng từ vận tải, khi xuất tŕnh bộ chứng từ tại ngân hàng để thanh toán tiền hàng, vận đơn sẽ được coi là hợp lệ theo tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế (ISBP số 681 năm 2007) dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức thanh toán bằng tín dụng thư phải đáp ứng các yêu cầu sau:

    Về h́nh thức của tờ vận đơn

    Trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, vận đơn có thể được phát hành dưới dạng giấy hoặc bằng dữ liệu điện tử. Nếu vận đơn được phát hành dưới dạng giấy th́ gọi là vận đơn giấy, phát hành dưới dạng điện tử th́ gọi là vận đơn điện tử (electronic Bill of Lading). Về h́nh thức của tờ vận đơn đường biển, mỗi hăng tàu khác nhau có thể phát hành khác nhau, song tính hợp lệ của tờ vận đơn đường biển về h́nh thức theo ISBP số 681 năm 2007 có thể khái quát lại như sau:

    + Vận đơn phải thể hiện được dùng cho việc vận chuyển hàng hóa từ cảng đến cảng (to covers a port to port shipment). Và trên tờ vận đơn không nhất thiết phải có tiêu đề như: “Vận đơn hàng hải – marine bill of lading” hay “vận đơn đường biển – ocean bill of lading” hoặc “vận đơn từ cảng đến cảng – port to port bill of lading” hay các tiêu đề tương tự khác.

    + Vận đơn phải được làm thành văn bản và do người vận chuyển phát hành.
    + Vận đơn bao giờ cũng bao gồm hai mặt (trừ vận đơn điện tử – E.B/L). Mặt trước bao gồm các ô, cột, ḍng in sẵn để điền những thông tin cần thiết khi sử dụng; mặt sau của vận đơn phải chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở hoặc dẫn chiếu tới các nguồn luật có quy định những điều kiện và điều khoản chuyên chở (đối với vận đơn rút gọn hay vận đơn trắng lưng).

    + Ngôn ngữ sử dụng trong tờ vận đơn phải là ngôn ngữ thống nhất (thường sử dụng tiếng Anh).

    + H́nh thức thể hiện của tờ vận đơn không quyết định giá trị pháp lư của vận đơn.
    Về nội dung thể hiện của tờ vận đơn
    Theo tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế, để kiểm tra chứng từ trong bộ chứng từ thanh toán bằng thư tín dụng – số 681 của ICC tuân thủ UCP 600 năm 2007, th́ tính hợp lệ về nội dung của tờ vận đơn được khái quát như sau:

    * Bộ vận đơn gốc phát hành

    Điều 20 UCP 600 năm 2007 của ICC (các quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ của Pḥng Thương mại quốc tế) quy định số lượng các bản gốc phát hành phải được thể hiện cụ thể trên vận đơn.

    Vận đơn gốc (original B/L) có thể được thể hiện bằng nhiều h́nh thức khác nhau, như: “Bản gốc thứ nhất – first original”, “bản gốc thứ hai – second original”, “bản gốc thứ ba – third original” hoặc “original”, “Duplicate”, “triplicate”... hay các ghi chú tương tự (similar expressions) đều là bản gốc. Theo ISBP số 681 năm 2007 nêu rơ, một vận đơn đường biển gốc không nhất thiết trên đó phải có chữ “original” mới được chấp nhận là gốc. Miễn là tờ vận đơn đó được lập hoặc thể hiện là được lập bằng các phương pháp theo quy định như đánh máy, viết tay... hay mẫu chứng từ chính thức của người phát hành và được ghi chú là chứng từ gốc. Theo ISBP số 681 năm 2007 th́ ngân hàng sẽ coi là chứng từ gốc một khi trên chứng từ đó thể hiện có chữ kư, kư hiệu, dấu hoặc nhăn gốc chân thực của người phát hành chứng từ (trừ trường hợp trên chứng từ chỉ rơ không phải là bản gốc).

    * Chữ kư và người kư vận đơn

    Vận đơn đường biển do người vận chuyển phát hành khi nhận hàng để chở. V́ vậy trên bề mặt của tờ vận đơn phải có tên của người vận chuyển và được ghi rơ là người vận chuyển (as the carrier), và trên các tờ vận đơn gốc phải có chữ kư của người vận chuyển hoặc những người được phép kư theo quy định. Theo Điều 94 – ISBP số 681 năm 2007, người kư vận đơn trên thực tế có thể là:

    - Người vận chuyển kư vận đơn: Người vận chuyển kư và ghi rơ tên đồng thời phải thể hiện là người vận chuyển.

    - Đại lư của người vận chuyển kư vận đơn: Đại lư của người vận chuyển kư vận đơn phải ghi rơ tên đồng thời thể hiện là đại lư thay mặt người vận chuyển.

    - Thuyền trưởng kư vận đơn: Thuyền trưởng kư vận đơn phải thể hiện rơ là thuyền trưởng.

    - Đại lư thay mặt thuyền trưởng kư vận đơn: Khi kư vận đơn phải thể hiện là đại lư và ghi rơ tên của thuyền trưởng mà đại lư thay mặt.

    Các chữ kư của người vận chuyển, thuyền trưởng hoặc đại lư phải xác định được đích thực chữ kư đó là của người vận chuyển, của thuyền trưởng hoặc đại lư đă kư thay hoặc đại diện cho người vận chuyển, thuyền trưởng. Trường hợp nếu L/C quy định “vận đơn của người giao nhận cũng chấp nhận-freight for warrder’s bill of lading is acceptable” th́ người giao nhận có thể kư vận đơn với tư cách của người giao nhận mà không cần phải thể hiện anh ta là người vận chuyển hay đại lư cho người vận chuyển và cũng không cần thiết phải nêu tên người vận chuyển thực tế.


    * Những ghi chú bốc hàng lên tàu

    Khi giao hàng bằng đường biển, vận đơn xuất tŕnh tại ngân hàng phải có ghi chú “đă bốc hàng – shipped on board”. Nếu trên tờ vận đơn đă in sẵn từ “đă bốc hàng” được xuất tŕnh th́ ngày phát hành vận đơn được coi là ngày bốc hàng lên tàu và cũng chính là ngày giao hàng.

    Trường hợp trên tờ vận đơn lại ghi chú ngày bốc hàng lên tàu riêng biệt, khác với ngày phát hành vận đơn, th́ ngày bốc hàng lên tàu vẫn được coi là ngày giao hàng cho dù ngày bốc hàng lên tàu có thể trước hoặc sau ngày phát hành vận đơn. Vận đơn thể hiện hàng đă được bốc lên tàu trên thực tế có thể được diễn đạt bằng nhiều cụm từ khác nhau:

    “Đă bốc hàng lên tàu – Laden on board”;
    “Đă bốc hàng lên tàu, hoàn hảo – Clean on board”;
    “Đă bốc hàng – shipped”;
    “Đă bốc lên tàu – on board”...

    Các cụm từ thể hiện như trên đều cùng nghĩa với cụm từ “shipped on board - đă bốc hàng lên tàu”. Trường hợp trên tờ vận đơn có ghi “con tàu dự kiến – intended vessel” hoặc quy định tương tự liên quan đến tên tàu vận chuyển th́ ghi chú xếp hàng lên tàu nào phải ghi rơ tên tàu, ngay cả khi xếp hàng lên chính con tàu dự kiến vận chuyển.

    * Cảng bốc và cảng dỡ hàng

    Theo ISBP số 681 năm 2007, khi tín dụng thư quy định cảng bốc (hoặc cảng dỡ) là một cảng cụ thể th́ trên tờ vận đơn cảng làm hàng cụ thể phải được thể hiện ở ô cảng bốc (hoặc cảng dỡ) hàng. Hoặc cũng có thể ghi vào ô “nơi nhận hàng” (hoặc “nơi đến cuối cùng”) với điều kiện có ghi chú chứng minh rằng hàng hóa đă được bốc lên tàu tại cảng chỉ định ở “nơi nhận hàng” (hoặc hàng hóa đă được dỡ ra khỏi tàu tại cảng chỉ định ở “nơi đến cuối cùng”).

    Trường hợp nếu L/C quy định một khu vực địa lư hay một loạt cảng bốc (hoặc dỡ) th́ cảng bốc (hoặc dỡ) thực tế phải được thể hiện trên vận đơn và các cảng trên vận đơn phải nằm trong khu vực địa lư hoặc trong số các cảng đă quy định trong tín dụng thư.

    * Chuyển tải

    Điều 104-ISBP số 681 năm 2007 quy định: Chuyển tải là việc dỡ hàng từ tàu biển này và lại bốc hàng lên tàu biển khác trong một hành tŕnh vận chuyển từ cảng bốc hàng đến cảng dỡ hàng theo quy định của tín dụng thư. Như vậy, chuyển tải có nghĩa trong hành tŕnh có sự thay đổi tàu và người vận chuyển.

    Trường hợp L/C quy định “cấm chuyển tải – transhipment not allowed” th́ tất cả các vận đơn có phê chú chuyển tải đều là không hợp lệ, trừ khi hàng được vận chuyển bằng container, xe rơ-moóc hay tàu Lash đă ghi trên vận đơn.

    * Giao hàng từng phần

    Điều 105-ISBP số 681 năm 2007 quy định, nếu một tín dụng thư cấm giao hàng từng phần và có nhiều bộ vận đơn gốc được xuất tŕnh cho lô hàng từ một hay nhiều cảng bốc hàng th́ các chứng từ đó vẫn được ngân hàng chấp nhận, miễn là chúng dùng cho việc giao hàng trên cùng một con tàu, trên cùng một hành tŕnh và được chở đến cùng một cảng dỡ hàng. Nếu trên các bộ vận đơn được xuất tŕnh có ngày giao hàng khác nhau th́ ngày giao hàng muộn nhất trong các ngày đó được dùng để xác định thời hạn xuất tŕnh theo yêu cầu của tín dụng thư.

    Giao hàng từng phần là giao hàng trên nhiều con tàu, ngay cả khi những con tàu này rời cảng cùng một ngày và đến cùng cảng đến.

    Người nhận hàng, bên ra lệnh, người gửi hàng và kư hậu, bên thông báo

    Tín dụng thư yêu cầu vận đơn phát hành dưới dạng đích danh, ví dụ “consigned to V.C.B”, th́ trên tờ vận đơn không được ghi từ “theo lệnh – to order” hoặc “theo lệnh của – to order of” trước tên của bên đích danh đó cho dù đánh máy hay in sẵn.

    Nếu tín dụng thư yêu cầu hàng hóa phải giao “theo lệnh – to order” hoặc “theo lệnh của – to order of” một bên đích danh th́ trên tờ vận đơn không được ghi hàng hóa được giao trực tiếp cho bên đích danh đó.

    Khi vận đơn được phát hành “theo lệnh – to order” hoặc “theo lệnh của người gửi hàng – to order of the Shipper” th́ vận đơn phải được người gửi hàng kư hậu. Người gửi hàng có thể cho phép hoặc ủy quyền cho người khác kư hậu vận đơn thay ḿnh, đều có thể chấp nhận được.

    * Tính hoàn hảo của vận đơn

    Trường hợp tín dụng thư không quy định ǵ, vận đơn xuất tŕnh tại ngân hàng được coi là hợp lệ phải là vận đơn hoàn hảo (clean bill of lading). Vận đơn hoàn hảo là vận đơn mà trên đó không có phê chú xấu về hàng hóa cũng như t́nh trạng hàng hóa lúc giao. Như vậy, một vận đơn hoàn hảo không nhất thiết phải có từ “hoàn hảo – clean” trên đó, kể cả khi từ “hoàn hảo” trên tờ vận đơn bị xóa đi cũng không làm mất tính hoàn hảo của tờ vận đơn. Hay trên vận đơn có những phê chú chung chung như: “bao b́ dùng lại – second hand cases”, “nghe nói cân được – said to weight” hoặc “bao b́ có thể không thích hợp cho vận tải đường biển – packaging may not be sufficient for the sea journey”... th́ các ngân hàng vẫn cho rằng những phê chú đó không phải là những phê chú xấu – vận đơn vẫn được coi là hợp lệ.

    * Sửa chữa và thay đổi trên vận đơn

    Một tờ vận đơn sau khi đă phát hành, thực tế vẫn có thể được sửa chữa và thay đổi. Song những sửa chữa và thay đổi trên vận đơn, ngân hàng chỉ chấp nhận khi có xác nhận của người vận chuyển, thuyền trưởng hay đại lư của người vận chuyển hoặc thuyền trưởng. Riêng đối với vận đơn copy, những thay đổi hay sửa chữa trên vận đơn như bản vận đơn gốc đă được thực hiện th́ không cần thiết phải có chữ kư hay xác nhận của người vận chuyển, thuyền trưởng hoặc đại lư của họ.

    * Cước và phụ phí

    Cước và phụ phí cũng là nội dung mà các ngân hàng thường chú ư kiểm tra khi vận đơn được xuất tŕnh. Nếu tín dụng thư yêu cầu vận đơn phải ghi rơ cước phí đă trả hoặc sẽ trả ở cảng đến th́ trên tờ vận đơn phải thể hiện rơ ràng. Nếu không đáp ứng như yêu cầu th́ vận đơn xuất tŕnh coi như là không hợp lệ.

    Nếu tín dụng thư quy định không chấp nhận các phụ phí th́ vận đơn không được thể hiện là phụ phí đă hoặc sẽ có…

    Tóm lại, một tờ vận đơn khi xuất tŕnh được coi là hợp lệ theo tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế – ISBP số 681 năm 2007 về h́nh thức cũng như nội dung phải đáp ứng các yêu cầu như đă phân tích. Ngân hàng khi kiểm tra chứng từ trong phương thức thanh toán bằng tín dụng thư thường căn cứ vào yêu cầu của tín dụng thư, nếu chứng từ đáp ứng đầy đủ yêu cầu của tín dụng thư th́ ngân hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng. Trường hợp tín dụng thư không có quy định th́ ngân hàng sẽ kiểm tra chứng từ theo tập quán của ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế. Tập quán này đă được Ủy ban Ngân hàng của Pḥng Thương mại quốc tế thông qua (ISBP 681 năm 2007 của ICC) có hiệu lực từ 01/7/2007.

    View more latest threads same category:


  2. The Following 2 Users Say Thank You to quynhviger For This Useful Post:

    mushroom (11-03-12), SAMLOGISTICS (03-31-11)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
VNEXIM FORUM PHIÊN BẢN THỬ NGHIỆM
Diễn đàn được Xây dựng và Phát triển bởi tất cả các Thành viên VNExim Forum
BQT không chịu trách nhiệm về nội dung bài viết của Thành Viên đăng tải
Liên hệ email: tuvanxuatnhapkhau@gmail.com, Hotline: 0903247555, Quản trị Vu Chan Nam

Liên Kết: Diễn Đàn Cà Phê Việt | Phân Tích Kỹ Thuật | U&Bank Community | Diễn Đàn Kinh Tế Việt Nam | Nhạc Pro |