Quy chế Bảo lănh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thương mại
Đang Tải Dữ Liệu...
Results 1 to 3 of 3

Thread: Quy chế Bảo lănh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thương mại

  1. #1
    Join Date
    Aug 2010
    Posts
    1,490
    Thanks
    18
    Thanked 167 Times in 116 Posts

    Default Quy chế Bảo lănh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thương mại

    Ngày 17/04/09 vừa qua, Thủ tướng Chính đă phủ ban hành Quyết định số 60/QĐ-TTg (“Quyết định 60”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009 ban hành Quy chế Bảo lănh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại (“Quyết định 14”).

    Đối tượng được bảo lănh vay vốn

    Theo Quyết định 14, Ngân hàng Phát triển Việt Nam sẽ bảo lănh vay vốn cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (kể cả các hợp tác xă) (i) có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng và (ii) sử dụng tối đa 500 lao động. Quyết định 60 được sửa đổi nhằm mở rộng các đối tượng có thể được bảo lănh. Cụ thể, theo Quyết định 60, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (kể cả hợp tác xă) chỉ cần đáp ứng một trong hai điều kiện (i) có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng, hoặc (ii) sử dụng dưới 1.000 lao động là đủ điều kiện được bảo lănh vay vốn.

    Phạm vi bảo lănh vay vốn

    Quyết định 60 ngoài ra c̣n c̣n sửa đổi phạm vi bảo lănh. Theo đó, Ngân hàng Phát triển Việt Nam “không bảo lănh cho các doanh nghiệp vay vốn để thực hiện dự án, phương án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn, kinh doanh bất động sản (trừ các dự án xây dựng nhà ở bán cho người có thu nhập thấp; nhà cho công nhân và sinh viên thuê; xây dựng nghĩa trang), kinh doanh chứng khoán; vay vốn để thanh toán nợ vay của các hợp đồng tín dụng khác.”

    Như vậy, so với Quyết định 14, Quyết định 60 đă (1) loại trừ “dự án xây dựng nhà ở bán cho người có thu nhập thấp; nhà cho công nhân và sinh viên thuê; xây dựng nghĩa trang” và (2) bỏ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực “dịch vụ” khỏi phạm vi các dự án không được bảo lănh. Nói cách khác, các dự án và doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực này sẽ được bảo lănh vay vốn.

    Điều kiện để doanh nghiệp được bảo lănh vay vốn

    Theo Quyết định 14 th́ để được bảo lănh vay vốn, doanh nghiệp phải đáp ứng 06 điều kiện, trong đó có 03 điều kiện gồm (1) không có nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế; (2) không nợ đọng thuế và (3) sử dụng 100% giá trị tài sản h́nh thành từ vốn vay (tối đa 90%) và vốn chủ sở hữu (tối thiểu 10%) để thế chấp bảo đảm bảo lănh tại Bên bảo lănh.

    Nay theo Quyết định 60, 03 điều kiện nêu trên được sửa đổi, băi bỏ để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Cụ thể 03 điều kiện này được sửa đổi như sau như sau: (1) không có nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng. Đối với trường hợp doanh nghiệp có nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng nhưng có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh và cam kết trả được nợ quá hạn th́ được bên bảo lănh thẩm định, quyết định bảo lănh vay vốn; (2) xóa bỏ hoàn toàn điều kiện nợ đọng thuế; và (3) doanh nghiệp được sử dụng tài sản h́nh thành từ vốn vay để thế chấp bảo đảm bảo lănh tại Bên bảo lănh.

    Thời hạn vay vốn

    Quyết định 60 được sửa đổi theo hướng cho phép thời hạn bảo lănh vay vốn phù hợp với thời gian cho vay của Bên nhận bảo lănh (kể cả thời gian gia hạn nếu có) chứ không chỉ giới hạn ở “thời hạn thu hồi vốn (đối với trường hợp vay vốn để đầu tư tài sản cố định)” hay “chu kỳ sản xuất kinh doanh (đối với trường hợp vay vốn lưu động)” như trong Quyết định 14.

    Các quy định về thủ tục và quyền không tiếp tục thực hiện bảo lănh của Bên bảo lănh

    Nhằm đơn giản hóa các thủ tục trong việc thực hiện bảo lănh và vay vốn, Quyết định 60 quy định cụ thể rằng khi có văn bản thông báo chấp thuận bảo lănh của Bên bảo lănh, bên nhận bảo lănh xem xét và kư hợp đồng tín dụng với doanh nghiệp mà không phải thẩm định lại các điều kiện quy định doanh nghiệp được bảo lănh vay vốn lại một lần nữa.

    Ngoài ra, nếu như theo Quyết định 14, Bên bảo lănh có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lănh khi Bên được bảo lănh hoặc Bên nhận bảo lănh vi phạm một trong bốn trường hợp như (1) Vi phạm chứng thư bảo lănh hoặc Hợp đồng bảo lănh; (2) Bên được bảo lănh không sử dụng vốn vay đúng mục đích; (3) Bên nhận bảo lănh không thông báo cho Bên bảo lănh khi Bên được bảo lănh rơi vào t́nh trạng kinh doanh thua lỗ; và (4) Bên nhận bảo lănh không thông báo cho Bên bảo lănh trong ṿng 7 ngày làm việc kể từ khi Bên được bảo lănh rơi vào t́nh trạng không trả được nợ th́ theo Quyết định 60, Bên bảo lănh chỉ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lănh “khi Bên được bảo lănh sử dụng vốn vay, tài sản h́nh thành từ vốn vay không đúng mục đích”.

    Quyết định 60 có hiệu lực kể từ ngày kư./.

    View more latest threads same category:


  2. #2
    Join Date
    Aug 2010
    Posts
    1,490
    Thanks
    18
    Thanked 167 Times in 116 Posts

    Default Bạn đă quan tâm đến bảo lănh ngân hàng?

    Trong kinh doanh ngày nay, bảo lănh ngân hàng luôn được xem như tấm Giấy thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm. Việc này không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của bạn mà các đối tác kinh doanh cũng sẽ có cơ sở để tin tưởng doanh nghiệp của bạn hơn.

    Bảo lănh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng; khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đă cam kết, khách hàng đă nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đă được trả thay. Trong kinh doanh ngày nay, bảo lănh ngân hàng luôn được xem như tấm Giấy thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm. Việc này không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của bạn mà các đối tác kinh doanh cũng sẽ có cơ sở để tin tưởng doanh nghiệp của bạn hơn.

    Với vai tṛ như vậy, bảo lănh đă trở thành loại dịch vụ kinh doanh có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm...

    Xét về bản chất, bảo lănh ngân hàng là h́nh thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (giao dịch bảo đảm) mang tính phái sinh. Vấn đề được đặt ra là quan hệ bảo lănh có phải là quan hệ hợp đồng hay chỉ là cam kết đơn phương? Hợp đồng bảo lănh ngân hàng được kư kết giữa những chủ thể nào? Trong trường hợp phát sinh tranh chấp về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo lănh th́ cơ quan tài phán có thể xem xét một cách độc lập với quan hệ phát sinh nghĩa vụ được bảo lănh hay không?

    Cam kết bảo lănh

    Bảo lănh là việc người thứ ba (người bảo lănh) cam kết với bên có quyền (người nhận bảo lănh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lănh) nếu đến thời hạn mà người được bảo lănh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc người bảo lănh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lănh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của ḿnh.

    Để được ngân hàng bảo lănh, bạn cần có đủ các điều kiện sau:

    Phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

    Mục đích đề nghị bảo lănh là hợp pháp.
    Có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng, thanh toán với ngân hàng
    Phải có tài sản đảm bảo hợp pháp cho nghĩa vụ được bảo lănh. Quy định về đảm bảo cho bảo lănh nói rơ: “Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp bảo đảm cho bảo lănh bao gồm kư quỹ, cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lănh bằng tài sản của bên thứ ba và các biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật”.

    Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ được bảo lănh trong thời hạn cam kết.

    Trong trường hợp bên nhận bảo lănh hoặc bên được bảo lănh là tổ chức, cá nhân nước ngoài, th́ ngoài các điều kiện trên, khách hàng c̣n phải thực hiện các quy định về quản lư vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, quy định về quản lư ngoại hối và các quy định có liên quan khác.
    Đối với trường hợp nhận bảo lănh hối phiếu, lệnh phiếu, khách hàng phải đảm bảo các quy định của pháp luật về thương phiếu.

    Vậy cam kết của người bảo lănh có thể xem là hành vi giao kết hợp đồng hay không? Có quan điểm cho rằng, cam kết của người bảo lănh không thể xem là hợp đồng, v́ đây chỉ là sự cam kết đơn phương.

    Bộ luật dân sự Việt cũng như của các nước đều xác định các bên có thể thoả thuận về việc người bảo lănh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lănh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của ḿnh. Với nội dung quy định như vậy, Bộ luật dân sự đă thể hiện rơ là quan hệ bảo lănh phát sinh trên cơ sở thoả thuận từ việc đưa ra cam kết của người bảo lănh. Việc ghi nhận yếu tố thoả thuận này chứng tỏ quan hệ bảo lănh không phát sinh mang tính đơn phương bằng cam kết của riêng bên bảo lănh.

    Trong thực tiễn pháp lư, quan niệm “quan hệ bảo lănh là quan hệ hợp đồng” vẫn c̣n khá phổ biến. Theo Từ điển pháp luật của Mỹ, th́ bảo lănh là sự thoả thuận, mà theo đó người bảo lănh chấp thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ; là việc bên bảo lănh bảo đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện.

    Như vậy, có thể thấy rơ rằng việc xác định yếu tố thoả thuận trong quan hệ bảo lănh (dấu hiệu cơ bản của quan hệ hợp đồng) được thể hiện khá rơ trong tư tưởng pháp lư. V́ vậy, sự thoả thuận giữa bên bảo lănh với bên nhận bảo lănh (bên chấp nhận hành vi bảo lănh của bên bảo lănh) là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ bảo lănh. Đối với cam kết bảo lănh mà bên bảo lănh đưa ra th́ không nên xem đó chỉ là cam kết đơn phương, mà về bản chất pháp lư th́ đó là văn bản dự thảo hợp đồng và nếu không được bên nhận bảo lănh chấp nhận th́ quan hệ bảo lănh không được thiết lập.

    Việc xác định đúng bản chất pháp lư của bảo lănh là cơ sở để phân định cơ cấu chủ thể của nó. Dựa trên các biểu hiện bên ngoài, việc bảo lănh có ba bên, bao gồm bên bảo lănh, bên nhận bảo lănh và bên được bảo lănh; nhưng về mặt pháp lư, quan hệ bảo lănh chỉ đ̣i hỏi bắt buộc hai bên là bên bảo lănh và bên nhận bảo lănh. Nhiều chuyên gia pháp luật cho rằng việc tham gia kư kết của bên được bảo lănh không phải là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ hợp đồng bảo lănh, mặc dù cam kết của bên được bảo lănh về việc thực hiện nghĩa vụ với bên bảo lănh sau khi họ thực hiện nghĩa vụ thay cho ḿnh là cơ sở để người bảo lănh đưa ra cam kết bảo lănh. Theo quy định th́ cam kết bảo lănh được đưa ra và chấp nhận giữa hai bên là “người thứ ba” (người bảo lănh) và “bên có quyền” (người nhận bảo lănh). C̣n việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lănh được quy định như sau: khi người bảo lănh đă hoàn thành nghĩa vụ th́ có quyền yêu cầu người được bảo lănh thực hiện nghĩa vụ đối với ḿnh trong phạm vi đă bảo lănh, nếu không có thoả thuận khác. Theo quan điểm pháp luật của nhiều nước, th́ Ngân hàng được phép sử dụng uy tín và khả năng tài chính của ḿnh để đảm bảo cho người nhận bảo lănh.

    Với các quy định trên đây, bên được bảo lănh là bên thụ hưởng lợi ích từ hợp đồng bảo lănh mà không phải là bên đóng vai tṛ thiết lập hợp đồng bảo lănh là bên bắt buộc kư kết hợp đồng bảo lănh. Về mặt nguyên tắc, các bên có thể kư kết hợp đồng bảo lănh gồm 3 bên, là bên bảo lănh, bên nhận bảo lănh và bên được bảo lănh. Tuy nhiên, do bên nhận bảo lănh và bên được bảo lănh không phải là các chủ thể thuộc cấu trúc chủ thể của hợp đồng bảo lănh, nên họ không có các quyền và nghĩa vụ tương ứng như quan hệ giữa người bảo lănh và người nhận bảo lănh. Trong trường hợp bên nhận bảo lănh và bên được bảo lănh thưa kiện lẫn nhau, th́ tư cách của họ không phải là tư cách của các bên kư kết hợp đồng bảo lănh, mà là tư cách của chủ thể quan hệ hợp đồng có nghĩa vụ của người được bảo lănh được đảm bảo bằng biện pháp bảo lănh.

    Khi ngân hàng thực hiện bảo lănh th́ các quan hệ sau đây phát sinh:

    - Thứ nhất, quan hệ giữa ngân hàng với bên có quyền (bên nhận bảo lănh).

    - Thứ hai, quan hệ dịch vụ bảo lănh giữa tổ chức tín dụng với khách hàng (bên có nghĩa vụ với bên nhận bảo lănh) phát sinh do thoả thuận giữa các bên trong việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay khách hàng và nghĩa vụ hoàn trả của khách hàng với tổ chức tín dụng.


    Như vậy, căn cứ vào cấu trúc chủ thể kư kết và thực hiện hợp đồng trong hoạt động bảo lănh ngân hàng theo quy định của pháp luật, sẽ tồn tại 2 loại quan hệ hợp đồng, là quan hệ hợp đồng bảo lănh ngân hàng và quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo lănh ngân hàng. Việc phân định rơ hai loại quan hệ tồn tại song song này có ư nghĩa quan trọng đối với việc xác định thẩm quyền của toà án trong giải quyết tranh chấp.

    Bạn có thể hỏi, ai sẽ là người đứng ra giải quyết trong trường hợp xảy ra tranh chấp, nhưng vấn đề xác định thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lănh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lănh ngân hàng mang tính độc lập hiện nay chưa được pháp luật quy định cụ thể.


    Tại Việt Nam, theo quy định của Quy chế bảo lănh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, th́ bên bảo lănh là các tổ chức tín dụng; c̣n bên nhận bảo lănh (bên có quyền) là các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Mặc dù Quy chế bảo lănh ngân hàng không trực tiếp quy định các loại chủ thể cụ thể là bên nhận bảo lănh, nhưng căn cứ vào các loại h́nh bảo lănh mà các tổ chức tín dụng được phép thực hiện, th́ có thể xác định bên nhận bảo lănh là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tham gia các loại hợp đồng như hợp đồng tín dụng, các loại hợp đồng cung ứng dịch vụ, sản phẩm phát sinh quan hệ thanh toán, các loại hợp đồng phát sinh trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng…

  3. #3
    Join Date
    Aug 2010
    Posts
    1,490
    Thanks
    18
    Thanked 167 Times in 116 Posts

    Default

    Điều 4 Quy chế bảo lănh ngân hàng quy định khách hàng được bảo lănh gồm có: doanh nghiệp nhà nước, các loại doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp, hợp tác xă, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác liên doanh và tham gia các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng, hộ kinh doanh cá thể.

    Như vậy, căn cứ vào loại chủ thể và mục đích tham gia kư kết hợp đồng bảo lănh và hợp đồng dịch vụ bảo lănh, căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, các quy định của Bộ luật dân sự th́ hợp đồng bảo lănh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lănh ngân hàng có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự.

    Vấn đề được đặt ra là trong trường hợp phát sinh tranh chấp từ hợp đồng bảo lănh ngân hàng hay từ hợp đồng dịch vụ bảo lănh ngân hàng th́ có thể xem xét các tranh chấp này độc lập với hợp đồng chính (hợp đồng kư kết giữa bên nhận bảo lănh với bên được bảo lănh) hay không?

    Trước đây, theo quy định của Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/ 01/1990 của Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế th́ việc xử lư tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lănh khi có vi phạm hợp đồng kinh tế được thực hiện cùng với giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế. Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 165/1999/NĐ - CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm th́ quy định trên đây của Nghị định số 17/HĐBT hết hiệu lực thi hành. Đến nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về vấn đề này.

    Căn cứ vào quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, quy định của Bộ luật dân sự th́ hợp đồng bảo lănh ngân hàng (kư kết giữa tổ chức tín dụng với bên có quyền) và hợp đồng dịch vụ bảo lănh ngân hàng (kư kết giữa tổ chức tín dụng với bên được bảo lănh) có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự. Mặc dù hiện nay ở nước ta, vấn đề cơ sở để phân định hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự có nhiều ư kiến khác nhau, nhưng không thể giản đơn mà cho rằng tất cả hợp đồng bảo đảm (giao dịch bảo đảm) đều là hợp đồng dân sự. Tuy các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật dân sự, nhưng pháp luật có các quy định mang tính phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự. Bởi vậy, nếu xác định tất cả các hợp đồng bảo đảm nghĩa vụ (trong đó có hợp đồng bảo lănh ngân hàng) là hợp đồng dân sự sẽ không phù hợp với pháp luật về hợp đồng kinh tế và pháp luật về hợp đồng dân sự. Ví dụ, nếu xem là hợp đồng dân sự th́ sẽ không phù hợp với pháp luật hợp đồng kinh tế đối với trường hợp tổ chức tín dụng kư hợp đồng bảo lănh với doanh nghiệp (bên nhận bảo lănh) để công ty cổ phần (bên được bảo lănh) dự thầu. Căn cứ vào Pháp lệnh hợp đồng kinh tế th́ cả hợp đồng bảo lănh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lănh ngân hàng đều thoả măn điều kiện của hợp đồng kinh tế, v́ các bản hợp đồng trên đều được kư kết giữa các chủ thể kinh doanh, đều thoả măn điều kiện là phải có một bên tham gia kư kết hợp đồng đủ tư cách pháp nhân và đều nhằm mục đích kinh doanh.

    Mặc dù cùng mang tính phái sinh và phụ thuộc vào hợp đồng được bảo đảm (hợp đồng chính), nhưng do hợp đồng bảo lănh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lănh ngân hàng có cơ cấu chủ thể mà các quyền, nghĩa vụ tương ứng mang tính độc lập, nên về mặt tố tụng nếu xem tất cả các quan hệ tranh chấp từ các hợp đồng này phụ thuộc vào hợp đồng chính sẽ không hợp lư. Chẳng hạn, nếu tranh chấp phát sinh giữa tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lănh được xem là tranh chấp mang tính phái sinh, th́ rơ ràng tổ chức tín dụng hoặc bên nhận bảo lănh không thực hiện được quyền khởi kiện một cách độc lập. Mặt khác, nếu các bên tham gia hợp đồng bảo lănh ngân hàng hoặc hợp đồng dịch vụ bảo lănh ngân hàng không có quyền khởi kiện độc lập và toà án không xem xét tranh chấp một cách độc lập với hợp đồng chính, th́ vấn đề đặt ra là họ tham gia tố tụng với tư cách ǵ? Nếu xem họ là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn hoặc chỉ với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan th́ trong nhiều trường hợp họ không thể chủ động thực hiện các hành vi trong tố tụng như khởi kiện, tham gia phiên toà, kháng cáo để bảo vệ quyền lợi của ḿnh. Chẳng hạn, tổ chức tín dụng và bên được bảo lănh tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả th́ rơ ràng tranh chấp này có tính độc lập về quyền, nghĩa vụ với hợp đồng chính nên có thể giải quyết một cách độc lập.

    Những dẫn giải trên đây cho thấy, dựa trên cơ sở xác định các loại quan hệ hợp đồng liên quan tới bảo lănh ngân hàng, cũng như nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bảo lănh, bên nhận bảo lănh và bên được bảo lănh, th́ pháp luật cần có quy định cụ thể theo hướng cho phép cơ quan giải quyết tranh chấp có thể xem xét giải quyết các tranh chấp về hợp đồng bảo lănh ngân hàng, hợp đồng dịch vụ bảo lănh ngân hàng độc lập nếu các quyền, nghĩa vụ bị tranh chấp không phụ thuộc vào hợp đồng chính. Hướng làm này sẽ tạo điều kiện để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong việc bảo lănh của ngân hàng một cách kịp thời, thúc đẩy dịch vụ bảo lănh của các tổ chức tín dụng phát triển, phát huyvai tṛ to lớn của chúng trong việc tăng tốc độ luân chuyển các nguồn vốn đầu tư.

    Nh́n chung, không thể phủ nhận vai tṛ của bảo lănh ngân hàng trong kinh doanh ngày nay. Rất nhiều công ty đă có được các khoản vốn cần thiết phục vụ dự án đầu tư kinh doanh của ḿnh thông qua bảo lănh ngân hàng. Chắc chắn rằng trong tương lai, hoạt động bảo lănh sẽ c̣n rất sôi động. Nếu bạn cần đến nguồn vốn đề đầu tư mà đă “đi gơ nhiều cửa” nhưng vẫn chưa huy động được vốn, hăy thử quan tâm đến bảo lănh ngân hàng xem sao.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Tags for this Thread

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
VNEXIM FORUM 273 DOI CAN STR, BA DINH DIST, HA NOI - VIET NAM
Diễn đàn được Xây dựng và Phát triển bởi tất cả các Thành viên VNExim Forum
BQT không chịu trách nhiệm về nội dung bài viết của Thành Viên
Liên hệ email: tuvanxuatnhapkhau@gmail.com, Hotline: 0903247555, Quản trị Vu Chan Nam

Liên Kết: Diễn Đàn Cà Phê Việt | Phân Tích Kỹ Thuật | U&Bank Community | Diễn Đàn Kinh Tế Việt Nam | Nhạc Pro |