Để giúp người mua và người bán ở các nước khác nhau có phong tục tập quán, luật lệ, ngôn ngữ… khác nhau dễ dàng quy định về các quyền lợi và nghĩa vụ trong quá tŕnh giao dịch mua bán hàng hóa, năm 1936 Pḥng Thương mại quốc tế (Tổ chức Thương mại thế giới) đă ban hành các điều kiện thương mại quốc tế (International comercial terms -incoterms).

Bản chất của Incoterms không phải là luật buôn bán quốc tế mà thực chất là một văn bản có tính chất khuyên nhủ, khuyến khích người mua và người bán trên thế giới tự nguyện áp dụng bởi tính khoa học và phổ biến của Incoterm. Một khi bên mua và bán tự nguyện áp dụng, dẫn chiếu vào hợp đồng th́ Incoterms sẽ trở thành văn bản có tính pháp lư buộc các bên phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ trong Incoterms. Từ năm 1936 đến nay, Incoterms đă qua 5 lần sữa đổi: 1953, 1967, 1980, 1990 và 2000. Tuy nhiên, Incoterms sau không phủ định nội dung của Incoterms trước đó đă ban hành, tùy theo phong tục tập quán của bên bán và bên mua mà có thể tùy ư áp dụng Incoterms nào và khi thống nhất áp dụng Incoterms nào th́ cần phải dẫn chiếu vào hợp đồng xuất khẩu. Hiện nay, Incoterms 2000 được sử dụng phổ biến nhất v́ đây là lần sửa đổi gần nhất, được ban hành dựa trên kinh nghiệm, tập quán buôn bán giữa các nước và khắc phục được các nhược điểm của Incoterms đă ban hành trước đó. Incoterms 2000 cũng gồm có 13 điều kiện và được chia thành 4 nhóm với nội dung như sau:

  • -Nhóm E, chỉ có 1 điều kiện EXW (Ex Works) là giao hàng tại xưởng. Đối với điều kiện này người mua chịu trách nhiệm làm thủ tục hải quan ở nước xuất khẩu và người bán hết mọi nghĩa vụ sau khi giao hàng tại kho của ḿnh.


  • Nhóm F, gồm có 3 điều kiện: FCA (Free carrier): giao cho người vận tải; FAS (Free alongside ship): giao dọc mạn tàu; FOB (Free on board): giao lên tàu. Đối với điều kiện của nhóm này, người bán làm thủ tục hải quan nhưng không trả chi phí vận tải chính và địa điểm chuyển rủi ro về hàng hóa là sau khi giao hàng ở nước xuất khẩu.


  • Nhóm C, gồm có 4 điều kiện: CFR (cost and freight): Tiền hàng và cước phí; CIF (Cost, insurance and freight): tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí; CPT (Carriage paid to): cước trả tới; CIP (Carriage and Insurance paid to): cước và bảo hiểm trả tới. Đối với các điều kiện nhóm này người bán làm thủ tục hải quan, chịu chi phí vận tải chính, mua bảo hiểm (đối với điều kiện CIF và CIP). Địa điểm chuyển rủi ro về hàng hóa là sau khi giao hàng ở nước xuất khẩu.


  • Nhóm D, gồm có 5 điều kiện: DAF (Delivered at frontier): giao tại biên giới; DES (Delivered ex ship): giao tại tàu; DEQ (Deliverd ex quay): giao tại cầu cảng; DDU (delivered duty unpaid): giao tại nơi đến chưa nộp thuế. DDP (Delivered duty paid): giao hàng tại nơi đến đă nộp thuế. Đối với các điều kiện nhóm này người bán chịu chi phí vận tải chính (trừ điều kiện DAF) và địa điểm chuyển rủi ro về hàng hóa là sau khi giao hàng ở nước người nhận hàng.

Mặc dù các Incoterms trước đây cũng như Incoterms 2000 đều chia thành 4 nhóm nhưng tại Việt Nam các nhà xuất khẩu thường chọn nhóm F và điều kiện FOB được áp dụng phổ biến nhất, c̣n các nhà nhập khẩu th́ lại chọn nhóm C và điều kiện CIF được áp dụng phổ biến nhất. Tuy nhiên, khi xét về góc độ kinh tế vĩ mô cũng như vi mô th́ việc xuất khẩu theo điều kiện nhóm C có lợi hơn so với nhóm F. Những lợi ích này, bao gồm:

  • Thứ nhất, nguồn thu ngoại tệ gia tăng: Đối với điều kiện nhóm C người bán chịu trách nhiệm về chi phí nhiều hơn nhóm F nên giá bán với điều kiện nhóm C bao giờ cũng cao hơn nhóm F nên nguồn thu ngoại tệ sẽ gia tăng. Trong quư I năm 2008 nhập siêu ở mức 7,4 tỷ USD, đạt mức kỷ lục trong nhiều năm qua. Do đó, nếu các nhà xuất khẩu lựa chọn điều kiện nhóm C thay thế nhóm F sẽ góp phần b́nh ổn cán cân thanh toán và hạn chế t́nh trạng nhập siêu.


  • Thứ hai, tạo điều kiện cho các công ty vận tải ở Việt Nam phát triển: trong thời gian qua, các công ty vận tải của Việt Nam phát triển chưa mạnh so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore… nguyên nhân chủ yếu là do “cầu” chưa tăng. Do đó, nếu các nhà xuất khẩu chọn điều kiện nhóm C thay thế nhóm F th́ sẽ “cầu” tất yếu sẽ gia tăng, v́ đối với nhóm C, nhà xuất khẩu chịu chi phí vận tải chính nên chủ yếu sẽ thuê các công ty vận tải ở Việt Nam vận chuyển. Khi đó các công ty vận tải có cơ hội để phát triển mạng lưới vận tải quốc tế, góp phần khẳng định vị thế của công ty vận tải ở Việt Nam trên thị trường thế giới.


  • Thứ ba, tạo điều kiện để các công ty bảo hiểm ở Việt Nam phát triển: mặc dù kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ở nước ta tăng liên tục nhưng hoạt động bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu phát triển c̣n thấp. Do đó, nếu các nhà xuất khẩu chọn điều kiện nhóm C (điều kiện CIP và CIF) thay nhóm F thay th́ các công ty bảo hiểm ở Việt Nam có cơ hội để nâng cao chất lượng và phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu.


  • Thứ tư, tạo thêm việc làm cho người lao động: như đă tŕnh bày ở trên, đối với điều kiện nhóm C sẽ góp phần làm tăng nguồn ngoại tệ, tạo điều kiện để các công ty vận tải, bảo hiểm... ở Việt Nam phát triển. Khi đó các công ty vận tải hoặc bảo hiểm sẽ thuê thêm lao động. Hơn nữa, để thực hiện điều kiện nhóm C, nhà xuất khẩu cần có thêm cán bộ giỏi về nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm. Do đó, việc lựa chọn điều kiện nhóm C, các nhà xuất khẩu Việt Nam góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động, thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển.


  • Thứ năm, nhà xuất khẩu chủ động trong việc giao hàng: đối với điều kiện nhóm C, nhà xuất khẩu chịu trách nhiệm thuê phương tiện vận tải nên biết rơ thời gian nào các phương tiện vận tải sẵn sàng nhận hàng nên nhà xuất khẩu chủ động trong việc thu gom và tập kết hàng hóa. Trong khi đó nếu xuất khẩu theo điều kiện nhóm F, nhà xuất khẩu bị lệ thuộc vào việc điều phương tiện vận tải do người nhập khẩu chỉ định và đôi khi chậm trễ có thể làm hư hỏng hàng hóa đă tập kết tại cảng hoặc kho.

Ngoài ra, nhà xuất khẩu c̣n có những lợi ích khác như: lượng ngoại tệ thu được nhiều hơn, nếu thiếu vốn, nhà xuất khẩu sẽ được tài trợ vốn nhiều hơn, được tiền giảm giá hay hoa hồng từ các công ty vận tải hoặc công ty bảo hiểm… góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên thương trường quốc tế.

Như vậy, xét về mặt lợi ích nếu xuất khẩu theo điều kiện thương mại nhóm C th́ sẽ có nhiều lợi ích hơn nếu chọn nhóm F. Tuy nhiên, trên thực tế các nhà xuất khẩu Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu theo điều kiện nhóm F và nhập khẩu theo điều kiện nhóm C. Điều này được giải thích bởi các nguyên nhân cơ bản sau:

  • Một là, do nhận thức sai lầm của nhà xuất khẩu cho rằng trách nhiệm về hàng hóa của nhà xuất khẩu đối với điều kiện nhóm C là tại nước nhập khẩu, c̣n đối với điều kiện nhóm F là tại nước xuất khẩu.


  • Hai là, do vị thế trong đàm phán của nhà xuất khẩu ở Việt Nam c̣n thấp: những nhà xuất nhập khẩu chuyên nghiệp đều biết rơ những lợi ích cụ thể của từng điều kiện thương mại trong Incoterms nên bên nào cũng muốn giành những lợi ích cho doanh nghiệp, quốc gia ḿnh. Tuy nhiên, do vị thế của nhà xuất khẩu ở Việt Nam c̣n thấp nên việc lựa chọn điều kiện nào là phụ thuộc vào nhà nhập khẩu.


  • Ba là, do năng lực của nhà xuất khẩu yếu nên chưa hiểu biết hết những lợi ích khi xuất khẩu theo điều kiện nhóm C, đặc biệt là các doanh nghiệp mới xuất khẩu, họ chưa biết làm thế nào để thuê tàu và mua bảo hiểm cho hàng hóa một cách hiệu quả nhất.


  • Bốn là, do hoạt động của các Công ty tải ở Việt Nam chưa phát triển mạnh nên một số tuyến đường quốc tế các Công ty vận tải ở Việt Nam chưa thực hiện được. Hơn nữa chất lượng vận tải ở Việt Nam chưa làm cho nhà xuất khẩu an tâm (trọng tải, tuổi thọ phương tiện vận tải…). Ngoài ra chi phí vận tải, bảo hiểm ở Việt Nam c̣n cao hơn các nước nhập khẩu.


  • Năm là, do thói quen. Trước đây, các nhà xuất nhập khẩu ở Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu với điều kiện FOB và nhập với điều kiện CIF. Điều kiện này cũng có nhiều ưu điểm riêng nên các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam vẫn thường xuyên áp dụng và trở thành thói quen nên rất khó để chuyển sang các điều kiện khác.

Tóm lại, việc xuất khẩu theo điều kiện nhóm C và nhập khẩu theo điều kiện nhóm F đảm bảo hài ḥa được lợi ích quốc gia và lợi ích của doanh nghiệp. Đây là điều không mới đối với các nhà xuất khẩu ở Việt Nam nhưng do nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan nên trong thời gian qua cũng như hiện nay các nhà xuất khẩu ở Việt Nam vẫn chọn h́nh thức xuất khẩu theo điều kiện nhóm F và nhập khẩu theo điều kiện nhóm C.

Để hạn chế t́nh trạng nhập siêu, tạo thêm việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế th́ nhà xuất khẩu Việt Nam phải chủ động chuyển sang xuất khẩu theo điều kiện nhóm C và nhập khẩu theo điều kiện nhóm F. Riêng đối với Ngân hàng phát triển Việt Nam là đơn vị đầu mối thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, cần nghiên cứu và có chính sách ưu đăi đối với các đơn vị xuất khẩu theo điều kiện nhóm C và nhập khẩu theo điều kiện nhóm F trong hoạt động tín dụng của ḿnh.
Sưu tầm

View more latest threads same category: